PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ, TIÊU THỤ SẢN PHẨM CÁ, DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẾN DẤU CHÂN ĐÁNH BẮT CÁ Ở VIỆT NAM

Các tác giả

  • Ngô Thái Hưng Khoa Kinh tế Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Huỳnh Gia Huy Khoa Kinh tế Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Đặng Thị Xuân Kiều Khoa Kinh tế Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Quan Huỳnh Như Mai Khoa Kinh tế Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Nguyễn Thị Anh Thi Khoa Kinh tế Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Bùi Nguyễn Phương Vi Khoa Kinh tế Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing, Thành phố Hồ Chí Minh

DOI:

https://doi.org/10.59775/1859-3968.258

Từ khóa:

Phát triển kinh tế, tiêu thụ sản phẩm cá, dấu chân đánh bắt cá, hồi quy phân vị

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích tác động của phát triển kinh tế và tiêu thụ sản phẩm cá, dân số và phát triển tài chính đến dấu chân đánh bắt cá (Fishing Ground Footprint - FGF) tại Việt Nam trong giai đoạn 1992 - 2018. Bằng cách ứng dụng các phương pháp định lượng tiên tiến gồm Hồi quy phân vị sóng (Wavelet Quantile Regression - WQR) và Hồi quy phân vị trên từng phân vị (Quantile-on-quantile Regression - QQR), nghiên cứu làm rõ mối quan hệ phi tuyến và biến động theo thời gian giữa các yếu tố này. Kết quả cho thấy, sự gia tăng phát triển kinh tế (GDP) và tiêu thụ sản phẩm cá (FC) dẫn đến việc khai thác quá mức tài nguyên biển, gây suy giảm đa dạng sinh học và suy thoái hệ sinh thái ven biển. Bên cạnh đó, phát triển tài chính (CR) có tác động hai chiều đến FGF: trong ngắn và trung hạn, tín dụng mở rộng làm gia tăng khai thác do tiếp cận vốn dễ dàng; tuy nhiên, trong dài hạn, dòng vốn có xu hướng chuyển dịch sang các lĩnh vực bền vững như nuôi biển công nghệ cao. Dân số (POP) thể hiện mối quan hệ phi tuyến với FGF: gia tăng dân số ban đầu làm tăng áp lực khai thác, nhưng khi đạt mức cao hơn, FGF giảm nhờ nâng cao nhận thức cộng đồng và hiệu quả quản lý. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm điều tiết tốc độ phát triển kinh tế, kiểm soát nhu cầu tiêu dùng hải sản, điều hướng tín dụng và quản lý dân số hiệu quả để thúc đẩy khai thác bền vững, giảm thiểu dấu chân đánh bắt cá tại Việt Nam trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

Thanh Trà (2024). Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2024 tăng hơn 12% so năm 2023. Quân đội Nhân dân. Truy cập này 03/01/2025, từ <https://nhandan.vn/kim-ngach-xuat-khau-thuy-san-nam-2024-tang-hon-12-so-nam-2023-post854069.html>.

Thuỳ Khánh (2020). Năm 2024: Nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản vượt chỉ tiêu. Cục Thủy sản Việt Nam. Truy cập ngày 03/01/2025, từ < https://thuysanvietnam.com.vn/nam-2024-nuoi-trong-va-xuat-khau-thuy-san-vuot-chi-tieu/>.

Cục thống kê(2022). Phát triển thủy sản theo hướng bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2016-2024.

World Bank (2020). Rapid fishery and aquaculture sector diagnosis using fishery performance indicators in the Gaza Strip.

Pauly D. & Zeller D. (2016). Catch reconstructions reveal that global marine fisheries catches are higher than reported and declining. Nature Communications, 10244.

Parker R. W. R., Blanchard J. L., Gardner C., Green B. S., Hartmann K., Tyedmers P. H., & Watson R. A. (2018). Fuel use and greenhouse gas emissions of world fisheries. Nature Climate Change, 8, 333-337.

Aminizadeh M., Mohammadi H. & Karbasi A. (2024). Determinants of fishing grounds footprint: Evidence from dynamic spatial Durbin model. Pollution Bulletin, 202, 116364.

Clark T. P. & Longo S. B. (2019). The ecological footprint of fisheries: A comparative international study. International Journal of Comparative Sociology, 60, 234-248.

Nguyễn Thị Vinh Hà (2019). Đánh giá tác động kinh tế của biến đổi khí hậu đến khai thác thủy sản và giải pháp ứng phó của Việt Nam. Luận án Tiến sĩ Kinh tế. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hà Nội.

Trần Thị Lan Hương, Nguyên Văn Dần, Vù Quỳnh Loan & Hoàng Nhất Thống (2023). Tác động của ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam đối với phát triển kinh tế - xã hội và đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường biển. Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng việt IV/2023, 45-50.

FAO (2022). The state of world fisheries and aquaculture 2022: Towards blue transformation.

Pata U. K., Erdogan S., Solarin S. A. & Okumus I. (2024). Evaluating the influence of democracy, financial development, and fishery product consumption on fishing grounds: A case study for Malaysia. Marine Policy, 168, 106310.

Clausen R. & York R. (2008). Global biodiversity decline of marine and freshwater fish: A cross-national analysis of economic, demographic, and ecological influences. Social Science Research, 37(4), 1310-1320.

Global Footprint Network (2009). Ecological footprint standards 2009.

Zhao Y. & Li Y. (2022). Impact of economic development on fisheries footprint. ICES Journal of Marine Science, 2741-2753.

Bello M. O., Solarin S. A. & Yen Y. Y. (2018). The impact of electricity consumption on CO2 emission, carbon footprint, water footprint and ecological footprint: -he role of hydropower in an emerging economy. Journal of Environmental Management, 219, 218–230.

Altiok S., Murthy A. C., Iha K. & Iha K. (2021). Reducing Mediterranean seafood footprints: The role of consumer attitudes. Ocean and Coastal Management, 214, 105915.

Adalı Z., Toygar A., & Yildirim U. (2023). Assessing the stochastic behavior of fishing grounds footprint of top ten fishing countries. Regional Studies in Marine Science, 63, 103015.

Ngo Thai Hung, Nguyen Thu Trang & Nguyen Thanh Thang (2022). Quantile relationship between globalization, financial development, economic growth, and carbon emissions: Evidence from Vietnam. Environmental Science and Pollution Research, 29, 60098-60116.

Bao Z. D. F. & Bao D. R. (2022). Energy efficiency and China’s sustainable carbon neutrality target: Evidence from novel research methods quantile on quantile regression approach. Economic Research-Ekonomska Istraživanja, 35, 6985-7007.

Reboredo J. C. C. (2017). Wavelet-based test of co-movement and causality between oil and renewable energy stock prices. Energy Economics, 61, 241-252.

Koenker R. & Bassett, G. (1987). Regression quantiles. Econometrica, 46(1), 33–50.

Sim N. & Zhou H. (2015). Oil prices, US stock return, and the dependence between their quantiles. Journal of Banking & Finance, 55, 1-8.

Linh Chi (2020). Năm 2018, ngành thủy sản hoàn thành mục tiêu đề ra. Thủy sản Việt Nam. Truy cập ngày 03/01/2025, từ <https://thuysanvietnam.com.vn/nam-2018-nganh-thuy-san-hoan-thanh-muc-tieu-de-ra/>.

Geng B., Wu D., Zhang C., Xie W., Aamir M. M. & Qamar A. (2024). How can the blue economy contribute to inclusive growth and ecosystem resources in Asia? A comparative analysis. Sustainability, 429, 16.

Antelo L. T. & Franco-Uría A. (2024). Fishing eco-efficiency of ports in Northwest Spain. Journal of Marine Science and Engineering, 12(7), 1227.

Zhang L., Sheng Z., & Guo Y. (2019). The effects of equity financing and debt financing on technological innovation: Evidence from developed countries. Baltic Journal of Management, 14, 698-715.

Chen Z., Zhang Y., Wang H., Ouyang X. & Xie Y. (2022). Can green credit policy promote low-carbon technology innovation? Journal of Cleaner Production, 132601.

Tải xuống

Đã Xuất bản

30-06-2025

Cách trích dẫn

Ngô Thái Hưng, Huỳnh Gia Huy, Đặng Thị Xuân Kiều, Quan Huỳnh Như Mai, Nguyễn Thị Anh Thi, & Bùi Nguyễn Phương Vi. (2025). PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ, TIÊU THỤ SẢN PHẨM CÁ, DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẾN DẤU CHÂN ĐÁNH BẮT CÁ Ở VIỆT NAM. Tạp Chí Khoa học Và Công nghệ Trường Đại học Hùng Vương, 11(2), 3–13. https://doi.org/10.59775/1859-3968.258