PHÚ THỌ BỨT PHÁ RA SAO ĐỂ ĐẤT TỔ THỊNH VƯỢNG VÀ VĂN MINH

Các tác giả

  • Ngô Doãn Vịnh Trường Đại học Hùng Vương
  • Phạm Thị Minh Thùy Trường Đại học Hùng Vương

DOI:

https://doi.org/10.59775/1859-3968.118

Từ khóa:

Kinh tế, văn hóa, xã hội, thịnh vượng, văn minh, tỉnh Phú Thọ

Tóm tắt

Với quyết tâm của cả các cấp lãnh đạo và của người dân, bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ đã có bước phát triển hơn xưa rất nhiều nhưng với mong muốn của con dân đất Việt thì chưa đạt mức mong muốn. GRDP có tốc độ tăng trưởng luôn gấp khoảng 1,3 lần bình quân cả nước, hệ thống kết cấu hạ tầng đã có sự phát triển vượt bậc so với nhiều tỉnh nhưng GRDP/người chỉ mới bằng khoảng trên 60% mức trung bình của cả nước (theo cách tính mới).  Tỉnh Phú Thọ vẫn phải nhận trợ giúp của trung ương khoảng 40% ngân sách. Trước tình hình đó, mọi người dân Việt Nam muốn làm thế nào để Phú Thọ giàu lên nhanh chóng, bộ mặt kinh tế, văn hóa - xã hội có sự bứt phá. Bài viết này muốn góp phần chỉ ra con đường để Phú Thọ đi tới thịnh vượng, văn minh trong tương lai gần.

Tài liệu tham khảo

Ngọc Vân (2022). Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới thế? Truy cập ngày 30/10/2022. Từ .

Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập 1). NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập2). NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.

Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2022). Niên giám Thống kê tỉnh Phú Thọ 2021. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2019). Niên giám Thống kê tỉnh Phú Thọ 2018. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2020). Niên giám Thống kê tỉnh Phú Thọ 2019. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2021). Niên giám Thống kê tỉnh Phú Thọ 2020. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Lào Cai (2019). Niên giám Thống kê tỉnh Lào Cai 2018. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Lào Cai (2020). Niên giám Thống kê tỉnh Lào Cai 2019. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Lào Cai (2021). Niên giám Thống kê tỉnh Lào Cai 2020. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Lào Cai (2022). Niên giám Thống kê tỉnh Lào Cai 2021. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Yên Bái (2019). Niên giám Thống kê tỉnh Yên Bái 2018. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Yên Bái (2020). Niên giám Thống kê tỉnh Yên Bái 2019. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Yên Bái (2021). Niên giám Thống kê tỉnh Yên Bái 2020. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Yên Bái (2022). Niên giám Thống kê tỉnh Yên Bái 2021. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang (2019). Niên giám Thống kê tỉnh Tuyên Quang 2018. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang (2020). Niên giám Thống kê tỉnh Tuyên Quang 2019. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang (2021). Niên giám Thống kê tỉnh Tuyên Quang 2020. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang (2022). Niên giám Thống kê tỉnh Tuyên Quang 2021. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Hà Giang (2019). Niên giám Thống kê tỉnh Hà Giang 2018. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Hà Giang (2020). Niên giám Thống kê tỉnh Hà Giang 2019. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Hà Giang (2021). Niên giám Thống kê tỉnh Hà Giang 2020. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Cục Thống kê tỉnh Hà Giang (2022). Niên giám Thống kê tỉnh Hà Giang 2021. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Tổng cục thống kê (2022). Niên giám thông kê Việt Nam năm 2021. NXB Thống Kê, Hà Nội.

Báo tin tức TTXVN (2014). Ngày dân số Thế giới 11/7: Hơn một nửa dân số sống ở đô thị. Truy cập ngày 30/10/2022. Từ < https://baotintuc.vn/chuyen-la-the-gioi/ngay-dan-so-the-gioi-117-hon-mot-nua-dan-so-song-o-do-thi-20140711081133157.htm>.

Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tải xuống

Đã Xuất bản

27-03-2023

Cách trích dẫn

Ngô Doãn Vịnh, & Phạm Thị Minh Thùy. (2023). PHÚ THỌ BỨT PHÁ RA SAO ĐỂ ĐẤT TỔ THỊNH VƯỢNG VÀ VĂN MINH. Tạp Chí Khoa học Và Công nghệ Trường Đại học Hùng Vương, 30(1), 14–23. https://doi.org/10.59775/1859-3968.118